Phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi: 10 năm thành công, sẵn sàng giai đoạn mới

Lượt xem:

Đọc bài viết

Ngày 21/10, Bộ GDĐT tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả 10 năm thực hiện Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, sơ kết 2 năm thực hiện Đề án Phát triển Giáo dục Mầm non giai đoạn 2018-2025, triển khai Nghị định số 105/2020/NĐ-CP ngày 08/9/2020 của Chính phủ quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non.

Diện mạo mới của giáo dục mầm non

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ GDĐT Ngô Thị Minh cho biết, Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi (PCGDMNTENT) được Chính phủ phê duyệt năm 2010 với mục tiêu: Bảo đảm hầu hết trẻ em 5 tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1.

Thứ trưởng Ngô Thị Minh phát biểu tại Hội nghị

Đây là một chủ trương đúng đắn, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước đối với thế hệ mầm non của đất nước. Đề án được toàn xã hội quan tâm và huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc thực hiện. Vượt nhiều khó khăn, trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã thực hiện thành công các mục tiêu PCGDMNTENT, tạo nên diện mạo mới đối với GDMN.

Mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân bố đến hầu hết các địa bàn dân cư xã, phường, thôn, bản. Mỗi phường xã có ít nhất 1 trường mầm non công lập. Đến nay, tổng số trường tăng khoảng trên 2.600 trường so với năm 2010. Cả nước hiện có 201.605 phòng học, số phòng học được xây mới trong 10 năm là 105.639 phòng, trong đó, có 156.642 phòng kiên cố (chiếm tỷ lệ 77,7%, tăng 28,3%); đồ dùng đồ chơi tối thiểu được trang bị ở hầu hết các lớp 5 tuổi.

Từ khi triển khai phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, chất lượng phòng học thay đổi theo hướng tích cực, đảm bảo 1 phòng/1 lớp mẫu giáo 5 tuổi. Từ phòng học tạm, tranh tre, nứa, lá, đến nay hầu hết phòng học cho trẻ em mẫu giáo 5 tuổi đã được đầu tư kiên cố, bán kiên cố. Số lượng phòng học xây mới, số phòng học kiên cố tăng, số phòng bán kiên cố, phòng học tạm giảm từng năm.

Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, chế độ chính sách được đảm bảo. Toàn ngành hiện có 364.776 GV, tăng 148.072 GV so với trước; tỷ lệ giáo viên/lớp đạt 1,82 GV/lớp.

GVMN từ chỗ phần lớn chưa được hưởng chế độ của viên chức mà chỉ được chi trả theo hợp đồng lao động với mức lương thấp, thậm chí có nơi GVMN chỉ được chi trả bằng thóc lúa, cuộc sống bấp bênh, thì đến nay tất cả GVMN đều được hưởng chế độ chính sách như viên chức nhà nước.

Đáng chú ý, tỷ lệ huy động trẻ đến trường tăng mạnh. Tổng số trẻ mầm non được đến trường là 5.306.501 trẻ em (tăng 1.535.018 trẻ so với năm học 2010-2011). Trong đó, có 1.637.266 trẻ mẫu giáo 5 tuổi (tăng 333.489 trẻ). Năm 2019, tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đạt 99,6% (tăng 3,56% so với năm 2011). Tỷ lệ trẻ em mẫu giáo 5 tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non đạt 99,9% (tăng 21,3%). Tỷ lệ trẻ em mẫu giáo được học 2 buổi/ngày đạt 99% (tăng 21,3%).

Sự đổi mới của chương trình GDMN, sự nâng cao về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đã chuẩn bị cho trẻ về thể chất, tâm lý, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, kỹ năng xã hội. Nhờ đó, trẻ vào lớp 1, mạnh dạn, tự tin, ham hiểu biết, thích đi học.

Ngoài ra, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm dần qua các năm, tỷ lệ thừa cân béo phì được khống chế. Trẻ em mẫu giáo có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn trưa. Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ khuyết tật được quan tâm phát hiện sớm, can thiệp sớm và học hòa nhập, góp phần nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đến trường.

Theo ông Nguyễn Bá Minh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục mầm non (Bộ GDĐT), góp phần thực hiện tốt phổ cập giáo dục mầm non sau 10 năm, phải kể đến công tác tuyên truyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng.

Trong giai đoạn 2011-2019, có nhiều tổ chức, cá nhân hiến đất để xây dựng trường mầm non. “Nhiều già làng, trưởng bản xem việc phổ cập giáo dục mầm non trẻ em là một niềm tự hào. Nhiều bà con ở vùng sâu vùng xa, tuy kinh tế không phải tốt lắm nhưng đã bán cả nhà và đất để xây trường. Hay nhờ sự chung tay, góp sức của toàn xã hội, phụ huynh tổ chức nấu ăn ở những nơi không có cô cấp dưỡng, để cố gắng huy động các cháu học được 2 buổi/ngày ở vùng khó khăn”, ông Minh nói.

Hướng tới phổ cập GDMN cho trẻ 4 tuổi vững chắc, chất lượng

Một số hạn chế, bất cập cũng được thẳng thắn đánh giá tại Hội nghị. Tỷ lệ huy động trẻ các độ tuổi có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền; đặc biệt tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo 3, 4 tuổi nhiều địa phương còn thấp.

Tình trạng thiếu giáo viên vẫn chưa được khắc phục. Đặc biệt, tỷ lệ giáo viên/lớp thấp một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Triển khai chậm chế độ chính sách đối với giáo viên hợp đồng lao động.

Tại Hội nghị, 68 tập thể và 204 cá nhân đã được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GDĐT

Theo báo cáo từ các địa phương, năm học 2019-2020, cả nước thiếu 45.242 giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập (sau khi đã được bổ sung 20.300 biên chế). Đội ngũ thiếu dẫn đến áp lực nặng nề hơn đối với giáo viên đứng lớp, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, hạn chế trong nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

Cả nước hiện có 15.461 nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non. Trong đó, 12.281 trường công lập (tỷ lệ 79,4%), 3.180 trường ngoài công lập (tỷ lệ 20,6%) với 200.262 nhóm/lớp. Toàn quốc có 15.914 cơ sở GDMN độc lập tư thục.

Tổng số trẻ mầm non được đến trường là 5.306.501 trẻ em, đạt tỷ lệ 66,2% (tăng 1.535.018 trẻ so với năm học 2010-2011). Trong đó có 873.654 trẻ nhà trẻ, đạt tỷ lệ huy động 28% (tăng 297.845); 4.432.847 trẻ mẫu giáo, đạt 90,5% (tăng 1.271.418), 1.637.266 trẻ mẫu giáo 5 tuổi, đạt tỷ lệ 99,6% (tăng 333.489).

Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn tới của GDMN, theo Thứ trưởng Ngô Thị Minh là thực hiện tốt đầu tư cơ sở vật chất trường lớp. Tuyển dụng đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ, đảm bảo các điều kiện nhằm duy trì và nâng cao chất lượng PCGDMNTNT. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn vướng mắc ở cơ sở đối với công tác đạt chuẩn PCGDMNTNT.

Thứ trưởng cho biết, tới đây, Vụ GDMN sẽ chủ trì, phối hợp các bộ ngành, các đơn vị, xây dựng trình Chính phủ Đề án PCGDMN cho trẻ em 4 tuổi. Các địa phương xây dựng Kế hoạch, xác định giải pháp và lộ trình triển khai thực hiện Đề án PCGDMN cho trẻ em 4 tuổi vững chắc, đảm bảo chất lượng, tính khả thi.

Đặc biệt, tham mưu chính quyền địa phương khẩn trương tuyển dụng giáo viên còn thiếu theo định mức để kịp thời đáp ứng quy mô trường, lớp và nhu cầu chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Đồng thời, từng nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ trong bối cảnh hội nhập và quốc tế hóa. Triển khai Nghị quyết số 102/NQ-CP về giải pháp đối với biên chế sự nghiệp giáo dục và y tế.

Thứ trưởng đề nghị, các địa phương ban hành Kế hoạch và văn bản hướng dẫn thực hiện đầy đủ, hiệu quả, kịp thời các chế độ chính sách quy định tại Nghị định sách đối với trẻ em và GVMN theo Nghị định số 105/2020/NĐ-CP và các chế độ, chính sách khác đối với cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên. Trong đó ưu tiên chính sách hỗ trợ giáo viên tại vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Ngoài ra, triển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mầm non giai đoạn 2018-2025, bồi dưỡng giáo viên đạt chuẩn đào tạo theo quy định tại Luật Giáo dục năm 2019. Tăng cường công tác giáo dục đạo đức lối sống, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực xử lý tình huống cho giáo viên. Giảm thiểu và chấm dứt bạo hành trẻ.

Thứ trưởng cũng nêu các yêu cầu khác về tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi; tăng cường ứng dụng CNTT trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, giảm áp lực cho GVMN; thực hiện có chất lượng chương trình GDMN; đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế trong GDMN;…

Trung tâm Truyền thông Giáo dục

image_print